24/3/18

Làng Mộc Mỹ Xuyên

           Trong các nghề thủ công tiêu biểu ở tỉnh Thừa Thiên - Huế, phải kể đến nghề chạm khắc gỗ của làng Mỹ Xuyên, xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 40km về phía bắc. Nằm bên dòng Ô Lâu, làng Mỹ Xuyên tồn tại hàng trăm năm, nổi tiếng với nghề truyền thống về mộc và chạm khắc mỹ nghệ.

Gian hàng Mộc Mỹ Xuyên tại festival Huế.

1.Nguồn gốc hình thành
            Làng Mỹ Xuyên được hình thành khá sớm so với xứ Đàng Trong (vào khoảng giữa thế kỷ 15). Ở đây có nghề chạm khắc gỗ khá nổi tiếng. Theo một số tư liệu sử học và gia phả họ Nguyễn Văn ở làng Mỹ Xuyên có ghi, nghề chạm khắc trên gỗ bắt đầu xuất hiện ở làng Mỹ Xuyên khoảng vào thế kỷ 19. Người khai sinh ra nghề này cho làng là ông Nguyễn Văn Thọ, con rể của làng. Ông Thọ (truyền nhân xuất sắc của ông Trần Văn Cao nổi tiếng về nghề mộc, chạm khắc phục vụ triều đình), người gốc xứ Thanh, vốn trước đây là nghệ nhân nổi tiếng của triều đình nhà Nguyễn. Sau đó ông đã kết duyên với bà Lê Thị Núc, người làng Mỹ Xuyên và sinh sống ở quê vợ để truyền nghề lại cho con cháu và người dân trong làng. Từ đó về sau, nghề chạm khắc gỗ với đội ngũ thợ điêu khắc tài hoa ngày càng phát triển ở Mỹ Xuyên.
2.Di sản văn hóa

            Nói đến làng mộc Mỹ Xuyên, phải nhắc đến nhà thờ họ Lê Văn. Đây là dòng họ lớn và đóng vai trò quan trọng trong quá trình lập làng Mỹ Xuyên. Cùng với sự ra đời của hàng loạt kiến trúc đình chùa, miếu mạo ở thế kỷ 19 trên đất Thuận Hóa, nhà thờ họ Lê Văn được xây dựng vào năm 1881 - đời Tự Đức thứ 34. Nhà thờ họ Lê Văn nằm ở vị trí trung tâm của làng, mặt quay về hướng nam, trên một gò đất cao, bằng phẳng. Kết cấu xây dựng gồm 3 gian, 2 chái, diện tích 160 m2 với 4 bộ vì kéo được gắn kết trên 48 cột lớn chia làm 3 hàng. Tất cả hệ thống cột, kèo, đòn tay đều bằng gỗ, được các nghệ nhân là những con dân trong dòng họ chạm khắc một cách công phu. Tuy đã trải qua 2 lần trùng tu vào các năm 1928 và 1961 nhưng điều đáng quý là cho đến nay những giá trị về mặt kiến trúc ban đầu vẫn gần như được giữ nguyên.
             Có thể nói nhà thờ họ Lê văn là nơi hội tụ và bảo lưu những tinh hoa truyền thống về nghề chạm khắc của làng Mỹ Xuyên vào cuối thế kỷ 19. Mái của nhà thờ họ Lê Văn hơi ngang, tạo thành một hình khối nhẹ nhàng, phía trước và hai bên lợp ngói liệt, dùng kiểu đắp bờ nóc phụ ở lưng chừng mái. Ở mái trước được trang trí “lưỡng long chầu nguyệt” cách điệu bằng vật liệu xi măng sành sứ. Với chức năng là nơi để tưởng niệm và thờ cúng tổ tiên của một dòng họ, công trình kiến trúc này mang phong cách nhà rường dân gian xứ Huế. Toàn bộ kết cấu bên trong của ngôi nhà là một khung gỗ mộng mẹo một cách sít sao. Các cột cái, cột quân, cột hiên trong cùng một vì kèo được nối với nhau từng đôi một. Tất cả các vì kèo trong ngôi nhà được nối với nhau tạo thành mối liên kết ngang , gồm thượng lương, xà và hoành tử. Nhìn một cách tổng thể, các đề tài chạm khắc, trang trí trong nội thất của nhà thờ họ Lê Văn có phần hơi khiêm nhường và không đi vào các đề tài sinh hoạt về con người như ở một số di tích kiến trúc nghệ thuật khác. Với kiểu dáng, kỹ năng mỹ thuật, các đồ trang trí theo lối nghệ thuật đặc trưng của thời nhà Nguyễn, nhà thờ họ Lê Văn đã phản ánh được tính chất của một dòng họ ở một làng quê có bề dày truyền thống văn hóa cũng như truyền thống ngành nghề.
               Nhà thờ họ Lê văn còn là nơi lưu giữ nhiều cổ vật, hiện vật quý giá mà đặc biệt là văn bản chữ Nôm thời Lê Sơ – triều vua Lê Nhân Tông thứ 9 năm 1451. Các tác phẩm điêu khắc được chạm khắc trên gỗ, trang trí bên trong nội thất của ngôi nhà đã phản ánh được sự phát triển của ngành nghề thủ công truyền thống của vùng đất này. Đây cũng là một di sản dân gian quý báu cùng với hệ thống làng cổ Phước Tích, làng đệm bàng Phò Trạch đã tạo nên một hệ thống di sản bên dòng Ô Lâu.
3.Đặc trưng sản phẩm


            Điêu khắc gỗ ở Mỹ Xuyên mang nét đặc trưng trong kiến trúc Huế; thể hiện giá trị mỹ thuật với kỹ xảo nghề nghiệp, trình độ chạm khắc và sự phối hợp thuần thục với cảm quan thẩm mỹ được thông qua đôi tay người thợ bằng những chiếc đục tạo nên trên chất liệu bằng gỗ.
            Nghề chạm khắc gỗ ở Mỹ Xuyên chiếm vị trí và có giá trị khá cao về trang trí nên có nhiều dạng khác nhau như chạm lộng, chạm chìm, chạm nổi, chạm xếp lớp, chạm lồng, chạm chấm phá, chạm cạn, chạm sâu, nét trầm phù, chạm khảm. Nó đã điểm tô, tạo nét thẩm mỹ, thượng lưu hóa, trang trọng hóa sản phẩm của nghề chạm khắc. Ở đây không chỉ phổ biến dạng điêu khắc tượng tròn mà còn chạm khắc gỗ dưới dạng phù điêu rất phong phú thể hiện trong các công trình kiến trúc nổi tiếng trong các điện của kinh thành Huế, trên các tường, vách đố bảng, kèo, đòn tay của ngôi nhà rường và trên những đồ dùng sinh hoạt như bàn, ghế, tủ, giường... theo phong cách thể hiện tính độc đáo, đặc thù của văn hóa Huế. Nhiều sản phẩm của Mỹ Xuyên đã giành huy chương vàng, bạc tại các triển lãm trong tỉnh và toàn quốc.
          Để gìn giữ và phát huy nghề truyền thống, UBND huyện Phong Điền đã quyết định thành lập cụm làng nghề Mỹ Xuyên và đã thu hút được đông đảo doanh nghiệp ra đời nhằm khôi phục và phát triển nghề truyền thống này. Nhờ vậy, sản phẩm làng nghề mộc, mỹ nghệ Mỹ Xuyên đã được tiêu thụ rộng khắp ở các tỉnh, thành trong và ngoài nước.


20/3/17

PGS-TS Trần Lưu Vân Hiền

             PGS-TS Trần Lưu Vân Hiền , người con gái trưởng của ông Trần Lưu Hân ( đời thứ 15 họ Trần Đình Vĩnh Xương ) . Ông Trần Lưu Hân là kĩ sư vô tuyến điện , trước năm 1945 ông là Hiệu trưởng trường tư thục Chu Văn An do ông thành lập .

GS.TSKH Ngô Huy Cẩn và vợ PGS TS Trần Lưu Vân Hiền 

               PGS-TS Trần Lưu Vân Hiền là mẹ của GS Ngô Bảo Châu , bà là học sinh giỏi văn những năm 1963-1964 , kỹ sư hóa , tiến sĩ dược học . Bà công tác ở Viện Y học cổ truyền Trung ương . Từ một nhóm cán bộ làm công tác nghiên cứu ; bà cùng cộng sự xây dựng và trở thành người lãnh đạo Phòng thí nghiệm nghiên cứu Đông y . PGS-TS Trần Lưu Vân Hiền chủ trì thực hiện thành công và được đánh giá cao nhiều dự án , đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước , cấp Bộ y tế và hướng dẫn nhiều nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luân án tiến sĩ .


          Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân (thứ hai, bên trái) chụp ảnh lưu niệm cùng GS. Ngô Bảo Châu (thứ hai, bên phải) và bố mẹ GS Ngô Bảo Châu- GS.TSKH Ngô Huy Cẩn và PGS TS Trần Lưu Vân Hiền chiều ngày 8/8/2010.
          Hiện nay bà đang còn nhiệt tình cống hiến cho sự nghiệp giáo dục nước nhà . PGS-TS Trần Lưu Vân Hiền nay là Phó hiệu trưởng trường Y học cổ truyền ở Hà Nội , liên kết với nhiều trường YHCT nhiều tỉnh thành khắp cả nước .
Theo website langvinhxuong.con.vn

Trương Như Thị Tịnh

             Khải Định Đế Hoàng quý phi Trương Như thị (chữ Hán: 啟定帝皇貴妃張如氏; 7 tháng 4, 1889 - 20 tháng 6, 1968), còn gọi là Giác Huệ ni sư (覺惠尼師), là Hoàng quý phi, người vợ đầu tiên và chính thức của Hoằng Tông Khải Định hoàng đế thuộc triều đại nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam.

             Danh hiệu của bà chỉ là hình thức phong tặng, vì bà từ chối nhận sắc phong của Hoằng Tông hoàng đế.
             Hoàng quý phi Trương Như thị nguyên danh Thị Tịnh (氏靜), là con gái quan Phụ chính đại thần Thượng thư bộ Lại, tước Hiền Lương tử Trương Như Cương (張如岡), người làng Hiền Lương, Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Năm 1904, khi được 15 tuổi, tiểu thư Trương Như thị được cưới làm phủ thiếp (府妾) khi Hoằng Tông hoàng đế còn là Phụng Hóa công ở cung An Định.
             Hoằng Tông Khải Định lúc đó mê cờ bạc, ăn chơi, gia đình họ Trương lại khá giả, bèn cậy đó buộc bà phải đi xin tiền cha mẹ để có tiền đi đánh bạc. Thương con, ông bà Trương cũng đành chiều ý.
               Thấy thế Hoằng Tông đương nghĩ của cải nhà nhạc gia là vô tận nên càng cờ bạc ăn chơi đã đời. Tuy gia đình họ Trương đại thần giàu có nhưng chưa phải là muốn mấy cũng có. Ông Trương xuất thân từ làng thợ rèn Hiền Lương, một làng lao động có nề nếp, sau này dù làm quan đến tột đỉnh danh vọng, ông vẫn giữ phong cách giản dị, cần kiệm của người cha là người lao động. Nhiều lần bà Tịnh bị cha mẹ quở trách nặng nề.
                Một hôm, Hoằng Tông nảy ý định mở một chén bạc lớn để thử thời vận nhưng trắng tay, ông liền bảo vợ về nhà xin tiền. Bà Tịnh đau đớn vì thấy đức ông chồng đã chẳng còn biết liêm sỉ, bà dùng dằng không muốn đi. Công nổi nóng la lối om sòm, doạ sẽ có thái độ với bà. Cuối cùng bà đã đi và đó cũng là lần cuối cùng bà về nhà xin tiền cha mẹ cho chồng cờ bạc. Bà quyết định ra đi, lên chùa tu bỏ mặc sự đời.
               Năm 1913, bà lên chùa Tây Thiên trình bày nguyện vọng muốn xuất gia, lấy pháp hiệu là Giác Huệ (覺惠), biệt hiệu Đạm Thanh (淡清) và Tuyết Nhan (雪顏). Đến năm 1916, bà về xã Thuỷ Dương, lập một cảnh chùa tại Độn Sầm, làng Thanh Thủy, huyện Hương Thủy (cách kinh thành Huế chừng 3 km về phía Nam) để tu thiền, đó là Hoa Nghiêm Các. Trong thời gian này, bà hay cùng bầu bạn với nữ sĩ Đạm Phương.

14/3/17

Giới thiệu

Quê hương là gì hỡi mẹ
Mà cô giáo dạy phải yêu
Quê hương là gì hỡi mẹ
Mà ai đi xa cũng nhớ nhiều.
           Vâng, kính thưa quý vị 4 câu thơ của nhạc sĩ Đỗ Trung Quân đã cho ta thấy quê hương là một thứ gì đó rất thiêng liêng và sâu lắng đọng lại trong mỗi con người của chúng ta.
            Mỗi người đều có một nơi để sinh ra, lớn lên, trưởng thành. Nơi đó chính là quê hương. Nơi đó in dấu biết bao nhiêu kỉ niệm tuổi thơ mà có lẽ đi hết cuộc đời cũng không thể nào quên được. Quê hương của các bạn như thế nào nhỉ? Còn quê hương của em rất tuyệt vời.
           Có lẽ ai cũng có một tình cảm riêng dành cho quê hương mình, và em cũng vậy. Em yêu tất thảy những thứ thuộc về nó. Quê hương em tuy nghèo, người dân chủ yếu sống bằng nghề làm nông nhưng dường như chưa ai chê trách điều đó. Người ở lại thì thương, người đi xa luôn mong ngóng được trở về lại nơi đây.
           Phong Điền là một vùng đất địa linh nhân kiệt nơi sản sinh ra rất nhiều danh nhân của dân tộc. Là nơi có nhiều làng nghề mang đậm nét Cố đô, là một địa điểm nổi tiếng trong bản đồ du lịch Việt thế nhưng đáng lẽ với những giá trị vô cùng to lớn đó Phong Điền phải có một website để giới thiệu về những hình đẹp của thiên nhiên, con người quê hương để bạn bè trong ngoài nước biết đến.
           Là một người con của quê hương Phong Điền yêu thương chúng em mong muốn rằng đời sống của người dân quê mình được cải thiện và nâng cao, nhưng vẫn giữ được truyền thống bản sách dân tộc văn hóa từ ngàn năm nay của địa phương trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa hiện đại hóa. Để góp nhỏ vào công cuộc cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân, dữ gìn bản sắc văn hóa của địa phương chúng em có ý tưởng là tạo 1 website để quảng bá hình ảnh của địa phương từ đó thu hút khách du lịch và qua đó cũng lưu giữ các giá trị văn hóa trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc tồn tại suốt mấy trăm năm qua ở vùng đất Phong Điền này.

           Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về: banbientapphongdien@gmail.com

Làn điệu chèo

          Là loại hình múa hát dân gian được diễn ra thường xuyên hằng năm vào kỳ Thu tế của làng Phò Trạch.
           Trước ngày tế, sau khi dựng rạp xong, làng tổ chức múa hát tập chèo nhằm đón rước thần linh cùng tổ tiên về dự. Diễn viên thường chọn trong số những mục đồng lớn tuổi nên tập chèo còn được gọi là tập chúng mục đồng. Hàng đội gồm 9 người, một người làm cai, 8 người còn lại chia thành 4 cặp với tên gọi: Biển xưa, Biển vải, Biển sơn, Biển vàng. Người cái mặc áo dài đen quần trắng, tay cầm sanh gõ nhịp điều khiển đội. 8 người con mặc quần dài, áo chẻn xanh hoặc trắng, tay cầm gậy tượng trưng mái chèo.
           Phần giáo đầu của hát múa tập chèo như sau:
Người cái xướng: 

Chiếu liền trải rạp,
Đèn sáp thắp lên,
Đứng lại hai bên,
Hoa lên một mái
(là truơ hậy)

Múa Sắc bùa

          Là loại hình lễ hội dân gian đặc sắc của huyện Phong Điền, do nhân dân làng Phò Trạch tổ chức theo định kỳ 12 năm một lần (Tí tập Sửu sắc, theo vòng con giáp). Cứ vào cuối năm các năm Tí, hội sắc bùa của hai thôn Tây Phú và Triều Quý của làng Phò Trạch diễn xướng. Nhân vật của đội sắc bùa gồm có ông chánh cai sắc (thường do một ông có chức sắc trong thôn đóng vai), ông phó cai sắc, ông tróc quỉ (một đến hai người), nhân vật quỉ (do trẻ em từ 13 đến 15 tuổi đóng), hàng đội (tuổi trung niên) từ 10 đến 15 người, có cử người cầm đuốc, đánh trống, não bạt...
           Về phục trang đạo cụ, ông chánh cai sắc mặc áo mã tiên có thêu hình rồng, đầu đội mũ ngũ hành, tay cầm “huyền trượng” hoặc “phương thiên họa kích”, ông phó cai sắc mặc áo thụng xanh, tay cầm “ngù”. “Huyền” và “ngù” là hai vật dùng để khai môn trừ tà của đạo giáo. Hai ông tróc quỷ cầm thanh long đao. Tất cả các loại vũ khí đều có gắn lục lạc, để khi nện xuống đất hoặc rung đều phát ra âm thanh.

Thơ ca dân gian

             Thơ ca dân gian ở Phong Điền rất dồi dào về số lượng tác phẩm và có đủ các thể lọai từ tục ngữ, câu đố đến ca dao, hò vè... Từ vùng bán sơn địa, vùng đồng bằng đến vùng ven biển, ven đầm phá, người dân các làng quê thời nào cũng dùng câu hò, điệu hát để làm cho cuộc sống thêm vui, thêm đẹp, giúp cho việc sản xuất, đấu tranh đạt hiệu quả cao hơn. Các làn điệu dân ca xứ Huế như hò giã gạo, hò mái nhì, mái đẩy, hát ru em, hát lý, chơi đồng dao, chơi bài tới, kể vè đều được người Phong Điền diễn xướng và lưu truyền, phổ biến từ đời này sang đời khác. Đặc biệt, nơi địa đầu đất Thuận Hoá - Phú Xuân lại sản sinh, vun trồng và phát triển một số loại hình dân ca - sân khấu dân gian đặc sắc, đó là hát sắc bùa, hát trò, tập chèo... Ở các loại hình này, thơ nhạc (làn điệu) và động tác diễn gắn bó, hoà quyện với nhau như hình với bóng. Phần lời nhiều khi được tách ra và được sử dụng như một tác phẩm thi ca độc lập.
              Điều cần nhấn mạnh là thơ ca dân gian Phong Điền suốt bảy trăm năm qua cả ở miền núi cũng như đồng bằng luôn luôn là một dòng chảy liền mạch. Thời xa xưa thì có các câu hò điệu hát về lao động sản xuất, đấu tranh chống áp bức cường quyền, về tình cảm gia đình xã hội... đến thời kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ lại sản sinh thêm các bài vè đánh giặc, các câu ca binh vận, tiếp vận, cổ vũ đời sống mới.

Truyện dân gian

        Truyện kể dân gian là một trong hai bộ phận lớn và chủ yếu của văn học dân gian Phong Điền. Phong phú nhất, đa dạng nhất trước hết phải kể đến các truyền thuyết dân gian. Phần lớn các truyện kể này đều nói về quá trình khai sơn, phá thạch, mở đất, lập làng của người dân từ phương Bắc xa xôi vào miền Trung sinh cơ lập nghiệp. Cách đây bảy trăm năm vùng đất giới hạn giữa bờ Nam sông Ô Lâu và bờ Bắc sông Bồ, phía Bắc châu Hoá nhiều nơi còn hoang vu. Lau lách và cây cối hoang dại phủ khắp gò đồi, triền sông, bãi cát...

Múa Thiên Hạ Thái Bình

         Múa bông hay còn gọi là ba vũ, là điệu múa cầu quốc thái dân an, thiên hạ thái bình. Diễn viên trình diễn điệu múa này là lớp vũ sinh đồng ấu từ 13 đến 15 tuổi, phải có ít nhất là 24 người cho đến 48 người hay nhiều hơn nữa tùy theo số lượng diễn viên và điều kiện sân bãi. Đây là một điệu múa cung đình đã lan truyền đến Phò Trạch. Vũ đạo múa bông thiên về di chuyển, đoạn mở đầu đội hình đi theo phép đằng xà, tức là chuyển động và uốn lượn đội hình như loài rắn mà ta thường thấy các đội âm công biểu diễn khi chuẩn bị đưa tang, đội hình di chuyển theo bài ca xướng của người điều khiển để sắp xếp theo từng chữ “Thiên, hạ, thái, bình”.nên còn gọi là điệu múa “Thiên hạ thái bình”. Đây là điệu múa được luyện tập công phu để trình diễn trong các dịp làng mở hội lớn.
         Phần diễn xướng của tiết mục được thực hiện theo trình tự như sau: vũ công xếp thành hai hàng ở phía ngoài cổng đình làng, người điều khiển đứng ở phía trong đình và xướng to:
               “Truyền dự lê viên đệ tử, đồng lai hiến vũ ba đăng”. Đoàn vũ sinh đồng thanh dạ một tiếng dài, tiến vào sân đình và chạy lộn vòng theo điệu đằng xà, đội bát âm cử nhạc. Người điều khiển tiếp tục xướng:
               “Hạnh phùng thạnh thế, hội hiệp quý hương, nghe làng tế lễ kỳ phước cầu an”.  
                “ Thần đẳng nguyện thái bình thiên hạ”.
          Trong âm vang tiếng trống kèn nhộn nhịp, đoàn vũ sinh tùy theo số lượng mà xếp thành hai hoặc bốn hàng, sau đó tiến hành sắp xếp chữ theo các câu diễn xướng của người điều hành:
“Thiên hậu hữu sinh, sinh phú quí.
Hoàng trù cửu khúc, xí nhi xương”.
(Thiên hiện: đội hình xếp thành chữ Thiên)
“ Hạ liệt sơn hà, phô cẩm tú.
Y hy tuyết nguyệt, hảo phong quang”.
(Hạ hiện: đội hình sắp xếp theo chữ Hạ)
“ Thái đắc thiên niên, diên dật lạc.
Tiêu thiều điệt xướng, hiến du dương”.
(Thái hiện: đội hình sắp xếp theo chữ Thái)
“ Bình dương thảo mộc đô xuân sắc.
Củng hứng Trường An hiến thọ trường”.
(Bình hiện: đội hình xếp theo hình chữ Bình)
          Hát trò là bộ môn kịch hát dân gian, được tổ chức theo định kỳ 24 năm một lần vào dịp đầu Xuân, hoặc vào các dịp đặc biệt như khi làng nhận sắc phong hay khi có lệnh của triều đình mở hội mừng chiến thắng, mừng lễ đăng quang của tân vương, mừng thọ các vua chúa... Xưa kia, nơi diễn chính thức của bộ môn hát trò là khu vực bến nước giữa giáp Tây Phú và xóm Tây Hồ thuộc giáp Trung Thạnh, gọi là bến Trò. Trò diễn xoay quanh chủ đề tứ dân, bách nghệ như: sĩ, nông, công, thương - ngư, tiều, canh, mục... Từng mảng trò lại có các nhân vật điển hình như: mảng sĩ có vai ông thầy, cậu học trò..., mảng ngư có các vai ông Chài, ông Rớ, ông Câu..., mảng canh mục có vai ông đi cày, chú mục đồng... Diễn viên chủ yếu là nam giới, được chọn từ các gia đình có truyền thống hát trò. Trong thời gian tập luyện và biểu diễn, diễn viên phải giữ mình thật thanh khiết, không sinh hoạt vợ chồng, không ăn thịt trâu...
           Ngày xưa, hát trò của làng Phò Trạch được trình diễn ở “kịch trường” thiên nhiên tại khu vực bến Trò, bao gồm trên cạn lẫn dưới nước. Đạo cụ và phục trang thực cảnh, mang tính dân dã, nhất là khi biểu diễn trò Ngư ở dưới nước đã tạo nên một hoạt cảnh sống động và hấp dẫn. Lời ca tiếng hát của các nhân vật lan tỏa trên mặt nước với những âm thanh vang vọng làm nô nức lòng người. Về sau, do yêu cầu của tầng lớp quyền quý, bộ môn hát trò được đưa lên “sân khấu” trên cạn, động tác của các nhân vật được cách điệu hóa, mang tính ước lệ nên hát trò Phò Trạch bị mất đi một phần nào nét nghệ thuật chân chất nguyên thủy của nó.
Hãy nghe một đoạn đối thoại của 2 nhân vật trong mảng trò Ngư:
-Rớ:... Cấy chi đen đen như nôốc
Nôốc mô đậu đó
Lướt sáo vô vè
Phá chỗ cá đi
Không cho ta cất rớ (hử)
-Chài: Rứa rớ ai trương lên đó
Chẳng cho ta độ thuyền,
Ngoen ngoẻn mà lên
Đừng làm lớn giọng
-Rớ: Bốn bề sáo vọng
Mà lại hiếp nhau
Đại nghề làm trữa (giữa) rào
Tiểu nghề làm trong đất.
Cha thằng chài chó vất,
Tau cho một trào (sào)...
-Chài: Cha thằng rớ ăn mót
Mi lấy trào đánh ai?
Rú thì có ông voi
Đầm soi thì có kẻ chài
Mi mắng ai chó vất
Tau sẵn hòn đá hòn đất
Tau quăng cấy lở quai hàm
Dám xuống thuyền tau mà nói láo.
(lấy đá quăng rớ)
-Rớ: Thằng chài xược xạo
Quăng đá dằm (nhằm) tau
Tau quăng lại e lũng mụi
-Chài: Ậy ậy
Phân chứng cớ hai bên bờ bụi,
Thằng rớ khiến quăng lở mụi thuyền tui.
Tui nổi giận Trương Phi
Tui dảy (nhảy) lên tui bẻ cọng
(hai người ẩu đả)
-Chài: Tau bẻ cọng, mi nói rằng đau,
Chớ huống chi mi nói quăng lở mụi thuyền tau
Thì tau cũng nằm đây tau la cứu.
(hai người cùng la)
          Những trò chơi dân gian độc đáo như đu tiên, đu rút, đu nhún, đu giàng xay, đi cầu nước, bịt mắt bắt dê, bịt mắt đánh trống, leo cột mỡ, chơi cù, đấu vật, ù mọi, giựt cờ... làm cho không khí lễ hội càng sôi nổi. Đặc biệt trong nghi lễ còn có các loại hình nghệ thuật cung đình và dân gian như múa tứ dật, múa phương tướng.
            Múa tứ dật là điệu múa dùng trong nghi thức tế lễ. Diễn viên múa thường là 32 người xếp theo 4 hàng, mặc áo chẻn màu xanh, quần dài trắng, thắt lưng và khăn bịt đầu màu đỏ, tay phải cầm lông đuôi chim trĩ, tay trái cầm ống địch có buộc tua chỉ màu đỏ. Lời xướng trong tứ dật cùng hòa với lời xướng của nghi thức tế lễ.
            Đây chính là khúc thức múa tứ dật của văn vũ sinh. Vũ khúc này xuất phát từ bát dật của cung đình, được biến đổi cho phù hợp với nghi lễ của dân gian.
              Múa phương tướng thường được tổ chức ở các đám tang ở người cao tuổi, cầm đầu là hai ông mặc võ phục, một người hóa trang mặt màu đen, một người mặt màu đỏ tay cầm siêu đao, hàng đội chừng 10 người cầm kiếm gỗ hoặc gậy gỗ vừa xướng vừa múa trước linh cửu của người quá cố.
             Một đoạn xướng trong tiết mục múa phương tướng:
Khâm thừa Thượng đế sắc ban sai,
Phụng mạng Thiên tôn tốc tốc lai,
Giá vũ đằng vân hành nhược vũ,
Tàng hình xuất một thị kỳ tài,
Cử đao khai lộ trừ quỉ mị,
Dẫn độ vong linh vãng Tây đài.
                                                                                           Theo Dư địa chí Phong Điền.

Thanh Hải

           Thanh Hải (1930-1980), tên thật là Phạm Bá Ngoãn, là một nhà thơ hiện đại Việt Nam.


1.Tiểu sử
             Nhà thơ Thanh Hải sinh ngày 4 tháng 11 năm 1930 tại xã Phong Bình, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế.
             Ông xuất thân trong một gia đình trí thức, nhưng nghèo. Cha ông làm nghề dạy học, mẹ ông là nông dân. Ông là anh cả trong gia đình gồm ba anh em. Hai em của ông là Phạm Bá Chất và Phạm Bá Liên đều đóng góp cho cách mạng nhưng không được nhắc đến nhiều như người anh của mình.
              Thuở nhỏ, ông đi học tại quê nhà. Năm 17 tuổi, Thanh Hải tham gia cách mạng ở huyện Hương Thủy, làm Chính trị viên Đoàn Văn công Thừa Thiên.
              Vào năm 1954 - 1964, ông ở lại quê hương hoạt động, làm cán bộ tuyên huấn tỉnh. Trong các năm 1964 - 1967, ông phụ trách báo Cờ giải phóng của thành phố Huế. Sau đó, ông làm Ủy viên chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, Chi hội phó chi Hội văn nghệ giải phóng Bình Trị Thiên.
               Từ sau năm 1975, ông làm Tổng thư ký Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên, đồng thời là Ủy viên thường vụ Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam, Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam.
               Sống được 5 năm trong hòa bình thì ông bị bệnh hiểm nghèo xơ gan cổ trướng, phải nằm Bệnh viện Trung ương Huế. Khi đó, ông viết bài thơ Mùa xuân nho nhỏ.Chẳng bao lâu sau khi viết bài thơ này, nhà thơ Thanh Hải qua đời vào ngày 15 tháng 12 năm 1980.Bài thơ "Mùa xuân nho nhỏ" được in trong tập thơ "Huế mùa xuân".
                   Những đồng chí trung kiên (1962)
                   Huế mùa xuân (tập 1-1970, tập 2-1972
2.Giải thưởng
  • Giải thưởng văn học Nguyễn Đình Chiểu (1965)
  • Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (đợt 2, năm 2000, truy tặng)
  • Giải nhất cuộc thi thơ của tuần báo Thống nhất (1959).
  • Giải nhì cuộc thi thơ của tuần báo Thống nhất (1962).
Theo Bách khoa toàn thư Wikipedia.

12/3/17

Nguyễn Đăng Đàn

            Ông sống vào thế kỷ XVIII, còn có tên là Nguyễn Đăng Tường, tự là Thuần Nhất, hiệu Bất Nhị, người làng Ưu Điềm, xã Phong Hòa, huyện Phong Điền- Thừa Thiên Huế.
            Từ bé vốn thông minh, học giỏi, nhưng không thích khoa cử, có tiếng giỏi về lý số và binh pháp. Tính tình điềm tĩnh, ưa làm điều thiện, không thích vinh hoa danh lợi.
            Đời chúa Nguyễn Phúc Hoạt (1738 – 1764), ông lấy tư cách là thường dân, đến triều đình dâng bản kế sách bằng chữ Nôm, đại ý nói: người làm vua chúa nên lấy việc cầu hiền tài, nghe lời can gián là trên hết. Chúa khen lời nói đúng đắn, thiết thực, muốn mời vào bổ quan, nhưng ông từ chối, vẫn tiếp tục nghề dạy học, làm nhà ở núi Thanh Thủy, học trò có đến vài trăm người, phần nhiều thành đạt.
           Đến lúc 70 tuổi, ông vẫn bền chí đức hạnh tốt đẹp, người đời kính trọng, tôn xưng là Siêu Quần tiên sinh (bậc thầy hơn người).

Hoàng Ngọc Chung

            Người huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Thuở nhỏ am hiểu, say mê luyện tập võ nghệ. Dưới thời vua Thiệu Trị ông làm thư lại trong phủ rồi thăng Binh bộ Bưu chính ty vụ. Đến đời vua Tự Đức, ông lần lượt giữ các chức Cẩn tín ty, cải bổ tam đẳng thị vệ, tiếp đó thăng Trung quân nhất vệ vệ úy sung hiệp lĩnh thị vệ trực ban.
Ngày 1 tháng 9 năm 1858 quân Pháp nổ súng đánh Đà Nẵng, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta. Bị thất bại ở mặt trận Đà Nẵng, tháng 2/1859 quân Pháp đưa quân vào đánh Gia Định. Nhận được tin Gia Định cáo cấp, Tự Đức sai Hoàng Ngọc Chung vào Nam sung tán tương quân vụ. Vào đến Gia Định ông cùng với quan quân triều đình tích cực phòng thủ chống giặc. Ngày 17/2/1859 thành Gia Định thất thủ, hữu đồn Phú Thọ bị phá vỡ, ông anh dũng cự chiến và hy sinh. Vua cho tặng Thống chế, gia cấp 80 lạng bạc cùng gấm lụa. Sau liệt thờ vào Trung nghĩa từ.
            Hoàng Ngọc Chung là vị quan võ trung thành, làm việc cẩn thận. Trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, với tấm lòng yêu nước nồng nàn, ông đã chiến đấu dũng cảm để bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc.

Cao Hữu Duyệt

           Ông sinh năm 1911, mất năm 1946; là nhà cách mạng, đảng viên thế hệ đầu tiên của ĐCSVN, bút danh Hữu Duy, quê làng Thế Chí Đông, xã Điền Hải, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
           Thuở nhỏ học ở trường Quốc học Huế, trước năm 1930 ông tham gia Đảng Tân Việt. Khi Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập tháng 02/1930; thì đến tháng 4/1930, ông cùng các đồng chí của mình thành lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên của trường Quốc Học và được cử làm Bí thư Chi bộ.
           Tháng 10/1930, do hoạt động bị lộ, mật thám Pháp đã ập vào bắt ông ngay trong giờ học. Ông bị xử 09 năm khổ sai đày đi Lao Bảo. Cùng giam trong tù với ông còn có các đồng chí Trần Hữu Dực, Lê Viết Lượng, Trần Mai Ninh…Trong tù, Cao Hữu Duyệt tự tay biên soạn hệ thống triết học kinh tế chính trị Mác-Lênin, cùng với ông Trần Văn Cung (Bí thư Kỳ bộ Thanh niên) làm bài giảng cho anh em trong tù học tập. Bài giảng của hai ông được đồng chí Lê Sĩ Thận bí mật viết lại, đóng thành tập nhỏ chuyền tay nhau học tập.
            Năm 1941, Cao Hữu Duyệt đứng ra thành lập báo Bạn Đường, một tờ báo ra hàng tuần lấy mục đích đấu tranh cho người nghèo, tuyên truyền một cách kín đáo cho cách mạng. Ông vừa chủ nhiệm kiêm chủ bút, vừa làm phóng viên, phụ trách trình bày là hoạ sĩ Phạm Viết Song. Những đồng chí quen biết như Trần Mai Ninh, Thôi Hữu thường viết bài cho ông…
           Năm 1943, báo Bạn Đường bị thực dân Pháp đình bản, ông trở về Lạc Lâm. Cách mạng tháng 8/1945 thành công, Cao Hữu Duyệt trở lại thị xã Thanh Hoá. Tại đây, Chủ tịch tỉnh Lê Tất Đắc đã cử ông làm Trưởng phòng Văn hoá Thông tin. Với cương vị và nghề nghiệp, ông xin phép tỉnh cho ra tờ báo A.B.C, lấy ý từ cuốn ABC du communisme (Vỡ lòng chủ nghĩa cộng sản) của nhà cách mạng Nga Boukharine. ABC đề cập đến những vấn đề cách mạng một cách dễ hiểu, hướng dẫn cho thanh niên, trí thức đến với cách mạng, rất được bạn đọc hoan nghênh. Tờ báo có đủ các mục xã luận, phổ biến những kiến thức vỡ lòng về chủ nghĩa cộng sản và văn thơ. Cao Hữu Duyệt còn dịch các tác phẩm tiến bộ trên thế giới ra tiếng Việt đăng trên báo của mình.

Cao Hữu Dực

            Ông sinh năm 1799, mất năm 1858; còn có tên là Cao Hữu Bằng, người làng Thế Chí Tây, huyện Phong Điền.
            Thi đỗ cử nhân năm 1825. Năm sau làm Hành tẩu phòng văn thư. Năm 1833, làm Án sát Hà Tĩnh, rồi Thự bố chính. Năm 1837, được chọn làm Thị lang Bộ Binh, sung Hiệp tán ở Trấn Tây. Từng dâng sớ điều trần các việc trị an nơi đây. Năm 1840, tình hình biến động, ông bị gián làm Viên ngoại lang Bộ Binh, vẫn giữ công việc Hiệp tán. Năm 1841, quân triều đình rút khỏi Trấn Tây, ông về làm Bố chánh An Giang, rồi bị truy lỗi, giáng xuống Tư vụ nhưng lãnh Án sát An Giang. Năm 1843, đổi về Gia Định rồi thăng Thự Tuyên phủ sư Tây Ninh. Ông đã chiêu dụ người dân Khmer an cư, lập ấp, cấp cho họ trâu bò, nông cụ để giữ vững biên cương. Năm 1845, được về kinh thăng hàm thị lang BộBinh, làm Thự tuần phủ An Giang, rồi Tuần phủ Hà tiên. Năm 1852, thăng Thự Tổng đốc An Hà, đóng góp nhiều công sức trong việc chiêu dụ nhân dân yên ổn làm ăn, trồng trọt. Năm 1859, ông lâm bệnh và mất. Được truy tặng Hiệp biện đại học sĩ, sai đưa quan tài về quê và cử quan đến tế.

Chu Cẩm Phong

            Chu Cẩm Phong (1941-1971) là một nhà văn hiện đại Việt Nam. Tên tuổi của ông được biết đến nhiều qua cuốn nhật ký ghi lại về cuộc đời ông trong thời gian tham gia cuộc Chiến tranh Việt Nam, mà sau này được biết đến với tên gọi Nhật ký chiến tranh. Ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vào năm 2010, trở thành nhà văn duy nhất trong lịch sử của Hội Nhà văn Việt Nam được phong tặng danh hiệu này.

Thân thế và cuộc đời
              Ông tên thật là Trần Tiến, sinh ngày 12 tháng 8 năm 1941 tại Hội An, Quảng Nam quê cha làng Kế Môn, xã Điền Môn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Năm 1954, ông theo cha tập kết ra Bắc và theo học tại trường học sinh miền Nam, và sau đó là Đại học Tổng hợp Hà Nội. Từng được cử vào Ban chấp hành Hội Liên hiệp Thanh niên - Sinh viên Việt Nam, ông được kết nạp Đảng Lao động Việt Nam khi mới 22 tuổi. Năm 1964, ông tốt nghiệp đại học loại xuất sắc, được nhà trường cử đi học tại nước ngoài nhưng đã xung phong vào miền Nam chiến đấu. Trong thời gian này, ông công tác tại Ban Tuyên huấn Khu V, làm phóng viên thông tấn rồi chuyển sang làm việc tại Tiểu ban Văn nghệ Khu V.

            Ngày 1 tháng 5 năm 1971, trong một chuyến đi thực tế, ông tử thương trong trận giao chiến diễn ra từ 10 giờ đến 14 giờ giữa 8 cán bộ, chiến sĩ Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và du kích xã Xuyên Phú với hơn một tiểu đoàn của liên quân Mỹ và Việt Nam Cộng hòa.
Tác phẩm
           Sự nghiệp văn học trong hơn 3 năm của Chu Cẩm Phong có lại nhiều tác phẩm như:
  • Vườn cây ăn quả nhà mẹ Thám
  • Gió lộng từ Cửa Đại
  • Mặt Biển - Mặt trận
  • Rét tháng Giêng
  • Mẹ con chị Hiền
             Những tác phẩm này là sự đúc kết những trải nghiệm, hiện thực sống động và khắc nghiệt của chiến trường.


Đặc biệt, sau gần 30 năm kể từ ngày ông hy sinh, tập sách Nhật ký chiến tranh (viết từ ngày 11 tháng 7 năm 1967 đến 27 tháng 4 năm 1971) dày hơn 900 trang, được Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2000 đã tạo nên niềm cảm xúc sâu xa trong độc giả cả nước, nhất là thế hệ trẻ sinh ra và lớn lên sau chiến tranh.[2]

Dương Phước Vịnh

           Ông sinh năm 1812, mất năm 1864; Văn thần thời Nguyễn, thường gọi là Dương Vịnh, người làng Hiền Lương, xã Phong Hiền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
           Lúc nhỏ có chí học hành, nhiều năm thọ giáo với cụ Đặng Văn Trọng, thân sinh Đặng Huy Trứ; năm 1841 ông đỗ Cử nhân, năm 1842 đỗ Phó bảng. Niên hiệu Tự Đức thứ nhất.
           Năm 1848 ông được bổ đồng Tri phủ ở Nghĩa Hưng. Năm 1854 đổi Ngự sử đạo Hải An. Năm 1856, thăng Thự Binh khoa Chưởng ấn, rồi chuyển Án sát ở Bình Định. Năm 1861, cất lên Binh bộ Thi lang, hộ lý Ninh Bình Tuần phủ quan phòng.Làm quan trải 21 năm, cai quản tại nhiều nơi quan yếu, được nha lại tin tưởng, nhân dân yêu mến, xứng đáng với lời khen ngợi. Ông mất ngày 5/12/1864, lúc đang giữ chức Tuần vũ Ninh Bình. Năm 1865, vợ con ông rước linh cửu về chôn cất tại Rú Cấm ở làng Văn Xá.
            Dương Phước Vịnh là hiền tế của nhà chế tạo tàu thuỷ thế kỷ XIX Hoàng Văn Lịch, là người trung hậu, làm quan thanh liêm, lại có tài văn chương trang nhã, đã sáng tác nhiều bài văn tế về lễ đám tang, đồng thời chế tác hương ước. Ông là người đỗ đại khoa khai khoa cho làng Hiền Lương.

Lê Nhữ Lâm

            Với chức vụ Tổng tài Quốc sử quán, Lê Nhữ Lâm đã trực tiếp tham gia tổ chức và điều khiển việc biên soạn các phần tiếp nối phần Đệ lục kỷ Đại Nam thực lục. Ông đã trở thành người thầy cuối cùng dạy vua và cũng là người Tổng tài cuối cùng của Quốc sử quan triều Nguyễn.
             Lê Nhữ Lâm, sinh năm 1881, là con của Án sát Bình Thuận Lê Trí, người xã Vân Trình, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, cùng quê với Trần Văn Kỷ, quan Trung thư lệnh của Hoàng đế Quang Trung ở Thuận Hóa hồi cuối thế kỷ XVIII. Ông được theo học Trường Quốc tử giám 11 năm (1895 -1906).
            Năm 1906 (Bính Ngọ, Thành Thái thứ 18), ông đi thi Hương và đậu cử nhân, xếp vị trí thứ 5 trên 35 người thi đỗ và làm quan dưới thời vua Duy Tân với chức Hành tẩu ở Bộ Hộ và Văn phòng Nội các.
             Cựu hoàng Bảo Đại có tên húy là Vĩnh Thụy, ra đời ngày 22-10-1913, tại Tiềm để (cung An Định hiện nay). Ba năm sau, phụ thân ông là Phụng Hóa Công lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Khải Định và Vĩnh Thụy trở thành hoàng tử. Năm 1918, Vĩnh Thụy lên 6 tuổi, vua Khải Định quyết định chọn thầy dạy cho hoàng tử.
               Để việc này được cẩn trọng, chu đáo, nhà vua triệu tập 4 vị quan có phẩm hạnh và có học vấn uyên thâm vào cung để chọn thầy giáo dạy cho hoàng tử Vĩnh Thụy. Các quan khăn đen, áo dài trịnh trọng ngồi thẳng hàng chờ ý kiến của nhà vua. Khải Định cho Vĩnh Thụy ra trình diện các quan. Vĩnh Thụy nhìn từng người, khi ánh mắt "chạm" vào Lê Nhữ Lâm, Hành tẩu ở Văn phòng Nội các, bèn cúi đầu tỏ vẻ sợ hãi. Việc này cũng là do Lê Nhữ Lâm có tướng mạo khác người, miệng hơi méo, hai mắt không bằng nhau, là người xấu trai nhất so với ba vị quan kia.
               Thế nhưng, vua Khải Định vẫn quyết định chọn ông làm giáo đạo cho hoàng tử Vĩnh Thụy. Lý do, ông Lê Nhữ Lâm có tướng mạo gây được sự kính nể của hoàng tử Vĩnh Thụy. Hơn nữa, trong thời gian làm quan, Lê Nhữ Lâm tỏ ra là một người có văn tài và phẩm hạnh tốt, được mọi người nể phục.
               Năm 1922, Vĩnh Thụy được phong hoàng thái tử, rồi vua Khải Định băng hà đầu năm 1926, Vĩnh Thụy lên ngôi lấy niên hiệu là Bảo Đại. Lúc này, ông Lê Nhữ Lâm vẫn tiếp tục làm thầy dạy vua cho đến tận ngày Bảo Đại bắt đầu chấp chính (1932).
               Dạy Vĩnh Thụy được bốn năm ở trong nước thì được phụ thân cho sang Pháp học và ông Lê Nhữ Lâm cũng phải khăn gói theo học trò sang Tây. Trong thời gian ở Pháp mười năm (1922-1932), ông vừa dạy phần Nho học cho Vĩnh Thụy (từ năm 1926 là vua Bảo Đại) vừa học thêm tiếng Pháp và văn minh văn hóa Pháp.
               Năm 1932, Bảo Đại hồi loan, bắt đầu nắm quyền. Một trong những việc đầu tiên của ông vua Tây học này là cho "về vườn" 5 vị Thượng thư xuất thân Nho học gồm Nguyễn Hữu Bài (Bộ Lại), Tôn Thất Đàn (Bộ Hình), Phạm Liệu (Bộ Binh), Võ Liêm (Bộ Lễ), Vương Tứ Đại (Bộ Công). Ông Lê Nhữ Lâm cũng xuất thân Nho học đã hoàn tất việc làm giáo đạo và giảng tập cho vua, đáng lẽ cũng phải ra đi.
                Nhưng không, với mười năm tự học thêm ở Pháp, ông Lê Nhữ Lâm đã tự trang bị cho mình một cái vốn tân học đáng kể. Ông được người học trò hoàng đế của mình cử giữ chức Tổng tài Quốc sử quán kiêm nhiệm Giám đốc Thư viện Bảo Đại (một nơi tàng trữ nhiều sách vở viết bằng chữ Hán và chữ Pháp) từ năm 1933 đến 1939. Với chức vụ Tổng tài Quốc sử quán, ông Lê Nhữ Lâm đã tham gia tổ chức và điều khiển việc biên soạn các phần tiếp nối của Đệ lục kỷ Đại Nam thực lục.
                 Như vậy, Lê Nhữ Lâm là người thầy cuối cùng dạy vua và cũng là người Tổng tài cuối cùng của Quốc sử quan triều Nguyễn. Năm 1940, ông về hưu với hàm Hiệp tá đại học sĩ, trở lại quê nhà Vân Trình sống với gia đình, đến năm 1963 mới qua đời. Trong thời gian Cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống Pháp, ông đã vận động con cháu và người làng tham gia cách mạng rất đông...

Mộ Đặng Văn Hòa

             Di tích mộ phần Đặng Văn Hòa (Lưu niệm danh nhân - LNDN) ở Khu nghĩa địa Cồn Lệnh, thôn Phổ Lại, xã Phong Sơn, huyện Phong Điền.